Việc bổ sung ofatumumab vào chlorambucil trong điều trị bệnh bạch cầu lympho mãn tính (CLL) cho các bệnh nhân chưa từng được điều trị và không phù hợp với fludarabine đã cải thiện kết quả lâm sàng và dung nạp tốt bất kể tuổi tác hay tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Tiến sĩ Peter Hillmen, MD, PhD, báo cáo rằng việc kết hợp ofatumumab với chlorambucil đã cải thiện đáng kể thời gian sống không tiến triển (PFS), tỷ lệ đáp ứng tổng thể (OR), tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn (CR) và kéo dài thời gian không cần điều trị so với việc chỉ sử dụng chlorambucil. Báo cáo này được đưa ra tại Hội nghị thường niên lần thứ 55 của Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ.
Ở các bệnh nhân CLL lớn tuổi không đủ điều kiện cho liệu pháp tiêu chuẩn fludarabine-cyclophosphamide-rituximab (FCR), chlorambucil với nhiều phác đồ liều lượng khác nhau vẫn là một lựa chọn điều trị. Ofatumumab, một kháng thể đơn dòng thế hệ thứ hai nhắm vào protein CD20 trên bề mặt tế bào B ác tính, cho thấy hiệu quả vượt trội trong việc kích hoạt bổ thể và gây độc tế bào qua trung gian kháng thể, so với rituximab. Trong nghiên cứu này, ofatumumab đã được chứng minh là hiệu quả ngay cả với những bệnh nhân không đáp ứng với rituximab.
Nghiên cứu COMPLEMENT 1 đã tuyển chọn 447 bệnh nhân CLL (ung thư máu)chưa từng được điều trị, được cho là không phù hợp với liệu pháp dựa trên fludarabine do tuổi cao hoặc bệnh lý kèm theo. Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên để điều trị với chlorambucil hoặc kết hợp ofatumumab và chlorambucil trong tối thiểu 3 chu kỳ và tối đa 12 chu kỳ. Thời gian điều trị trung bình ở cả hai nhóm là 6 chu kỳ.
Phác đồ điều trị:
- Ofatumumab được truyền tĩnh mạch với liều 300 mg vào ngày 1 và 1.000 mg vào ngày 8 của chu kỳ đầu tiên, sau đó tiếp tục với liều 1.000 mg mỗi 28 ngày từ chu kỳ 2 đến chu kỳ 12.
- Chlorambucil được uống với liều 10 mg/m² từ ngày 1 đến ngày 7 trong mỗi chu kỳ 28 ngày. Thời gian sử dụng chlorambucil trong 7 ngày mỗi chu kỳ có thể là lý do cho tỷ lệ đáp ứng cao hơn so với các phác đồ sử dụng chlorambucil cách 15 ngày một lần trong các thử nghiệm lâm sàng khác.
Đặc điểm bệnh nhân ban đầu:
- Tuổi trung bình là 69 tuổi.
- 91% bệnh nhân thuộc nhóm ECOG (Chỉ số hoạt động của Nhóm Hợp tác Ung thư Châu Âu) mức 0 hoặc 1.
- Số lượng bệnh lý nền trung bình là 3 cho mỗi nhóm.
- Khoảng 1/4 số bệnh nhân trên 75 tuổi.
- 87% bệnh nhân trong mỗi nhóm hoặc trên 65 tuổi hoặc có ≥ 2 bệnh lý nền hoặc độ thanh thải creatinine < 70 mL/phút, khiến họ không phù hợp với fludarabine.
Kết quả:
- PFS trung bình: 22,4 tháng ở nhóm ofatumumab và chlorambucil (Thuốc chlorasp-2) so với 13,1 tháng ở nhóm chỉ dùng chlorambucil (HR = 0,57; P = 0,001).
- Tỷ lệ đáp ứng tổng thể: 82% ở nhóm kết hợp so với 69% ở nhóm chỉ dùng chlorambucil (P < 0,001).
- Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn: 14% ở nhóm kết hợp so với 1% ở nhóm chỉ dùng chlorambucil.
- Thời gian đáp ứng trung bình: 22,1 tháng ở nhóm kết hợp so với 13,1 tháng ở nhóm chỉ dùng chlorambucil (P < 0,001).
- Thời gian không cần điều trị: 39,8 tháng ở nhóm kết hợp so với 24,7 tháng ở nhóm chỉ dùng chlorambucil (P < 0,001).
- Thời gian sống tổng thể (OS): chưa đạt được ở cả hai nhóm. Sau 2 năm, 88,7% bệnh nhân ở nhóm kết hợp còn sống so với 86,7% ở nhóm chỉ dùng chlorambucil, và sau 3 năm, tỷ lệ này lần lượt là 85,1% và 83,2%.
Tác dụng phụ:
- Việc điều trị được dung nạp tốt với tỷ lệ ngừng điều trị do tác dụng phụ là 13% ở cả hai nhóm.
- 10% bệnh nhân ở nhóm ofatumumab và chlorambucil gặp phải phản ứng truyền dịch cấp độ ≥ 3.
- Tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính cấp độ ≥ 3 cao hơn ở nhóm kết hợp (26%) so với nhóm chỉ dùng chlorambucil (14%), nhưng không dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm trùng.
- 19% bệnh nhân ở cả hai nhóm phải giảm liều chlorambucil do giảm bạch cầu trung tính.
Tác giả: Wayne Kuznar
Nguồn: Hillmen P, Robak T, Janssens A, et al. Ofatumumab + chlorambucil versus chlorambucil alone in patients with untreated chronic lymphocytic leukemia: results of the phase III study COMPLEMENT 1 (OMB110911). Trình bày tại: Hội nghị ASH lần thứ 55; ngày 7-10 tháng 12 năm 2013; New Orleans, LA. Abstract 528.





