Obinutuzumab và Chlorambucil: Lựa chọn hàng đầu cho CLL

Obinutuzumab/Chlorambucil được củng cố như là lựa chọn hàng đầu cho bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính (CLL) : Sự kết hợp của obinutuzumab và chlorambucil đã làm giảm nguy cơ tử vong xuống 24% so với rituximab kết hợp với chlorambucil ở những bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính (CLL) chưa từng điều trị, theo dữ liệu được báo cáo tại Đại hội Hiệp hội Huyết học Châu Âu năm 2018.

Nghiên cứu tổng quan

Tiến sĩ Valentin Goede, bác sĩ chuyên khoa huyết học/ung thư tại Khoa Nội I của Bệnh viện Đại học Cologne, Đức, người chủ trì nghiên cứu, đã chia sẻ rằng sự kết hợp obinutuzumab (Gazyva, Hoa Kỳ; Gazyvaro, EU) và chlorambucil làm giảm nguy cơ tử vong xuống 24% so với rituximab (Rituxan, Hoa Kỳ; MabThera, EU) cộng với chlorambucil ở những bệnh nhân mắc CLL chưa từng điều trị và có bệnh lý đi kèm.

Nghiên cứu CLL11 giai đoạn III được thực hiện trên một nhóm bệnh nhân chưa từng được điều trị CLL (thuộc nhóm bệnh ung thư máu), với thời gian theo dõi trung bình gần 5 năm (59,4 tháng). Trong phân tích sống còn toàn bộ (OS), OS trung bình không đạt được với obinutuzumab cộng chlorambucil, trong khi OS trung bình với rituximab cộng chlorambucil là 73,1 tháng (HR, 0,76; 95% CI, 0,60-0,97; P <.0245).

Sự kết hợp obinutuzumab cũng làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong tới 51% so với phác đồ rituximab. Thời gian sống không tiến triển (PFS) trung bình là 28,9 tháng với obinutuzumab so với 15,7 tháng với rituximab (HR, 0,49; 95% CI, 0,41-0,58; P <.0001).

Thời gian đến lần điều trị tiếp theo (TTNT) là 56,4 tháng đối với obinutuzumab/chlorambucil, so với 34,9 tháng đối với rituximab/chlorambucil (HR, 0,58; 95% CI, 0,46-0,73; P <.0001). Ngoài ra, tỷ lệ âm tính tối thiểu của bệnh còn lại lần lượt là 24% với obinutuzumab so với 2% với rituximab.

Nghiên cứu CLL11 đã ngẫu nhiên phân chia 781 bệnh nhân mắc CLL  (thuộc nhóm bệnh ung thư máu).chưa được điều trị trước đó và có bệnh đi kèm, theo tỷ lệ 1:2:2 để nhận sáu chu kỳ điều trị với chlorambucil kéo dài 28 ngày.

  • Nhóm 1: Chlorambucil đơn thuần (n = 118)
    Nhóm 2: Rituximab cộng với chlorambucil (n = 330)
    Nhóm 3: Obinutuzumab cộng với chlorambucil (n = 333)

Các bệnh nhân trong nghiên cứu có điểm CIRS (Cumulative Illness Rating Scale) >6 và/hoặc độ thanh thải creatinin (CrCl) <70 mL/phút. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 73 tuổi, điểm CIRS trung bình là 8, và CrCl trung bình là 62 mL/phút.

Phân tích an toàn không cho thấy tín hiệu mới nào liên quan đến các tác dụng phụ khi sử dụng obinutuzumab/chlorambucil. 37% bệnh nhân trong nhóm obinutuzumab/chlorambucil tử vong trong quá trình theo dõi, so với 45% trong nhóm rituximab/chlorambucil. Nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong là bệnh tiến triển, chiếm 10% trong nhóm obinutuzumab và 15% trong nhóm rituximab.

Tiến sĩ Goede cho biết: “Những kết quả này từ nghiên cứu CLL11 khẳng định sự kết hợp obinutuzumab cộng với chlorambucil là lựa chọn hàng đầu cho những bệnh nhân mắc CLL và có bệnh lý đi kèm. Sự ưu tiên cho obinutuzumab trong các phác đồ kết hợp tương lai cũng rất quan trọng.”

Bảng tóm tắt kết quả chính

Biến số Obinutuzumab/Chlorambucil Rituximab/Chlorambucil

  • Nguy cơ tử vong giảm (%) 24%
  • PFS trung bình (tháng) 28,9 15,7
  • TTNT trung bình (tháng) 56,4 34,9
  • Tỷ lệ âm tính tối thiểu của bệnh 24% 2%

Chlorambucil là một hoạt chất được sử dụng trong điều trị ung thư, đặc biệt là các bệnh lý về máu như ung thư bạch cầu lympho mạn tính, u lympho Hodgkin và không Hodgkin. Một số tên thương mại chứa chlorambucil bao gồm:

  • Thuốc Leukeran: thuốc này chứa hoạt chất chlorambucil và thường được sử dụng phổ biến nhất.
  • Chloraminophene: một tên thương mại khác chứa hoạt chất tương tự.
  • Thuốc celkeran.
  • Thuốc chlorasp-2.
  • Thuốc Chloramax.

Các thuốc này đều được chỉ định trong điều trị các bệnh lý ác tính về máu.

Tác giả: Virginia Powers

Đội ngũ biên tập viên Nhà Thuốc An Tâm

Tài liệu tham khảo: Goede V, Fischer K, Dyer MJS, et al. Lợi ích sống sót của obinutuzumab so với rituximab trong kết hợp với chlorambucil ở những bệnh nhân mắc CLL có bệnh đi kèm. Trình bày tại: Đại hội EHA 2018; Stockholm, Thụy Điển.

Rate this post

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *