Điều trị kết hợp nivolumab (thuốc Opdivo) và xạ trị tiêu chuẩn đã dẫn đến việc cải thiện thời gian không tái phát sinh hóa (FFBR) so với các đối chứng lịch sử ở bệnh nhân mắc ung thư tuyến tiền liệt Gleason nhóm 5 (GG5), theo dữ liệu từ thử nghiệm pha 2 (NCT03543189) được trình bày tại Hội nghị thường niên năm 2024 của Hiệp hội Ung bướu Xạ trị Hoa Kỳ (ASTRO).
Sau 2 năm, tỷ lệ FFBR đạt 90,3% ở bệnh nhân nhận nivolumab kết hợp với xạ trị so với tỷ lệ đối chứng lịch sử là 75% (P = 0,025). Ngoài ra, dữ liệu cho thấy FFBR trung vị là 58,6 tháng với điều trị kết hợp nivolumab, và các nhà nghiên cứu không quan sát thấy độc tính độ 4 hoặc cao hơn. Sau 3 năm, tỷ lệ FFBR là 90,4% ở nhóm bệnh nhân nhận nivolumab so với 68,8% ở nhóm đối chứng hiện tại chỉ nhận xạ trị tiêu chuẩn (P = 0,027).
Dựa trên phân tích đa biến điều chỉnh, việc bổ sung nivolumab có tương quan đáng kể với kết quả tái phát sinh hóa so với chỉ sử dụng xạ trị tiêu chuẩn (P = 0,008). Các yếu tố khác trong phân tích đa biến cũng cho thấy bệnh giai đoạn IVA (P = 0,022) và giai đoạn IVB (P = 0,031) có liên quan đáng kể đến kết quả tái phát sinh hóa.
“Điểm quan trọng nhất của nghiên cứu này là việc bổ sung nivolumab vào liệu pháp kết hợp ba phương thức đã có liên quan đến sự cải thiện FFBR ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt Gleason nhóm 5 với khối lượng cao, so với tỷ lệ đối chứng lịch sử được xác định trước và cả nhóm đối chứng hiện tại, mặc dù bệnh nhân có tỷ lệ di căn cao hơn và không được chiếu xạ các hạch bạch huyết,” tác giả trình bày Tiến sĩ John Michael Bryant, bác sĩ trưởng khoa xạ trị tại Trung tâm Ung thư và Viện Nghiên cứu H. Lee Moffitt ở Tampa, Florida, cho biết.
Trong số những bệnh nhân có đáp ứng bệnh lý trong nhóm nivolumab, các nhà nghiên cứu phân loại bệnh nhân thành đáp ứng bệnh lý sớm hoặc đáp ứng bệnh lý muộn. Đáp ứng bệnh lý sớm được định nghĩa là có 1 hoặc ít hơn lõi dương tính trên sinh thiết sáu lõi qua đường tầng sinh môn sau phân đoạn liều cao đầu tiên của xạ trị bằng hạt (HDR) brachytherapy.
Đáp ứng bệnh lý muộn bao gồm việc có nhiều hơn 1 lõi dương tính trên cùng kỳ sinh thiết. Theo Bryant, bệnh nhân có đáp ứng muộn và tiến triển bệnh thường có nhiều vị trí di căn hơn so với bệnh nhân đáp ứng sớm, những người có xu hướng chỉ có một vị trí di căn tại thời điểm tiến triển.
Kết quả từ phân tích biomarker cho thấy chữ ký gene Ricketts có tương quan đáng kể với cả đáp ứng bệnh lý sớm và đáp ứng hình ảnh. Chữ ký này bao gồm 13 gene liên quan đến ức chế miễn dịch, bao gồm nhưng không giới hạn ở CD274, IDO1, FASLG, CTLA4, PDCD1, và LAG3. Dựa trên phân tích đa biến điều chỉnh, nguy cơ thấp có chữ ký Ricketts là yếu tố duy nhất có liên quan đáng kể với kết quả đáp ứng (P = 0,04).
“Đáp ứng bệnh lý sớm, được đặc trưng bởi khối lượng khối u còn sót lại thấp hơn và sự biểu hiện cao hơn của các chỉ dấu miễn dịch, có liên quan đến kết quả lâm sàng tốt hơn,” Bryant nói. “Điểm số Ricketts Immunosuppression là một biomarker tiềm năng có thể giúp trong việc lựa chọn bệnh nhân cho liệu pháp này trong tương lai.”
Các nhà nghiên cứu đã thực hiện thử nghiệm pha 2 này tại Trung tâm Ung thư và Viện Nghiên cứu H. Lee Moffitt. Những bệnh nhân đủ điều kiện có ung thư tuyến tiền liệt GG5 với khối lượng lớn hoặc di căn ít. Thử nghiệm ban đầu bao gồm 34 bệnh nhân, với 2 bệnh nhân cuối cùng bị loại khỏi phân tích.
Bệnh nhân được chỉ định nhận 240 mg nivolumab mỗi 2 tuần trong tổng cộng 4 liều kết hợp với liệu pháp ba phương thức tiêu chuẩn bao gồm liệu pháp ức chế androgen, xạ trị ngoài, và brachytherapy. Mục tiêu chính của thử nghiệm là đạt FFBR 2 năm từ 90% trở lên.
Kết quả của bệnh nhân nhận liệu pháp dựa trên nivolumab được so sánh với nhóm đối chứng hiện tại bao gồm 45 bệnh nhân nhận xạ trị tiêu chuẩn tại cùng một cơ sở từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 11 năm 2021. Các nhà nghiên cứu đã xác định hồi cứu những bệnh nhân đáp ứng tất cả các tiêu chí ghi danh vào nghiên cứu và được theo dõi trong ít nhất 2 năm.
Về đặc điểm ban đầu, Bryant lưu ý rằng bệnh nhân trong nhóm nivolumab có xu hướng trẻ hơn so với nhóm đối chứng (P = 0,018). Ngoài ra, một tỷ lệ lớn hơn bệnh nhân trong nhóm đối chứng mắc bệnh giai đoạn IIIC (93,3%) so với nhóm nivolumab (75,0%; P = 0,041). Dữ liệu cũng cho thấy 84,4% bệnh nhân nhận nivolumab không chiếu xạ hạch so với 55,6% trong nhóm đối chứng (P = 0,008).
Tác giả Russ Conroy
Đội ngũ biên tập viên nhà thuốc An Tâm
Tài liệu tham khảo
- Bryant JM, Sandoval ML, Putney R, et al. Combination of nivolumab immunotherapy with radiation therapy and androgen deprivation therapy in the management of Gleason Group 5 prostate cancer: final analysis of a phase 2 trial. Presented at the 2024 American Society for Radiation Oncology Annual Meeting (ASTRO); September 29 – October 2, 2024; Washington, DC. Abstract 187.
- Nivolumab Plus Radiotherapy Reduces Rates of Biochemical Recurrence in Gleason Grade 5 Prostate Cancer – https://www.onclive.com/view/nivolumab-plus-radiotherapy-reduces-rates-of-biochemical-recurrence-in-gleason-grade-5-prostate-cancer





