Việc sử dụng Acid Zoledronic hoặc các loại bisphosphonates khác có liên quan đến việc giảm đáng kể nguy cơ gãy xương ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt di căn nhạy cảm với cắt tinh hoàn (mHSPC), theo phân tích từ thử nghiệm giai đoạn 2/3 STAMPEDE (NCT00268476) được trình bày tại Hội nghị Thường niên Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ 2023.
- Ở những bệnh nhân có bệnh di căn, việc sử dụng axit zoledronic đã giảm nguy cơ gãy xương 64% (HR, 0,36; CI 95%, 0,22-0,57; P < 0,0005).
- Ở những bệnh nhân không có bệnh di căn, không có mối liên hệ đáng kể giữa việc sử dụng axit zoledronic và giảm nguy cơ gãy xương (HR, 0,67; CI 95%, 0,32-1,39; P = 0,28).
Trong cuộc phỏng vấn Craig Jones, MBChB, chuyên gia về tiết niệu tại Christie và Salford Royal NHS Foundation, đã nhấn mạnh ý nghĩa của những phát hiện này.
- Tổng cộng 2.962 bệnh nhân có nguy cơ cao, ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn tiến triển tại chỗ, di căn hoặc tái phát, đã được tuyển chọn vào thử nghiệm STAMPEDE. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào các nhóm: chỉ điều trị bằng liệu pháp cắt tinh hoàn (ADT), ADT cộng axit zoledronic, ADT cộng docetaxel, hoặc ADT cộng axit zoledronic và docetaxel.
- Kết quả chung từ thử nghiệm STAMPEDE cho thấy Acid Zoledronic không cải thiện kết quả sống sót tổng thể (OS).
Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá tác động lâu dài của điều trị bisphosphonate lên sức khỏe xương của bệnh nhân. Sử dụng cơ sở dữ liệu Hospital Episode Statistics (HES), các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu chăm sóc sức khỏe thường xuyên từ những bệnh nhân tại Anh và xứ Wales tham gia thử nghiệm STAMPEDE.
- Dữ liệu về tỷ lệ gãy xương lâm sàng thu được cho 2.145 (72%) trong tổng số 2.962 bệnh nhân. Trong đó, 796 bệnh nhân không có di căn (M0) và 1.349 bệnh nhân có di căn (M1).
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các mô hình hồi quy Cox đa biến để xác định tác động cụ thể của Acid Zoledronic đối với nguy cơ gãy xương, đã điều chỉnh theo độ tuổi, giai đoạn bệnh (N stage), tình trạng hoạt động (ECOG), điểm Gleason, và việc sử dụng NSAIDs.
- Tỷ lệ gãy xương sau 5 năm ở tất cả bệnh nhân là 6,4%. Tỷ lệ này cao hơn đáng kể ở bệnh nhân có bệnh di căn (9,6%) so với bệnh nhân không di căn (2,1%) (P < 0,0001).
- Ở nhóm bệnh nhân có di căn, tỷ lệ gãy xương sau 5 năm thấp hơn ở những bệnh nhân nhận Acid Zoledronic (4,55%) so với nhóm không sử dụng (12,9%) (P < 0,0001).
Craig Jones nhấn mạnh: “Hiện tại, Acid Zoledronic (thuốc zometa) chưa được khuyến nghị rộng rãi trong bối cảnh nhạy cảm với cắt tinh hoàn. Tuy nhiên, những dữ liệu này cho thấy nó thực sự giảm nguy cơ gãy xương… Do đó, câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có nên cung cấp bảo vệ xương cho những bệnh nhân bắt đầu điều trị ADT dài hạn?”
Tác giả: Jason Broderick
Đội ngũ biên soạn Nhà Thuốc An Tâm
Tài liệu tham khảo
- Jones C, Sachdeva A, Murphy L, et al. Tỷ lệ gãy xương lâm sàng ở ung thư tuyến tiền liệt nhạy cảm với hormone di căn (mHSPC) và giảm nguy cơ sau khi bổ sung axit zoledronic vào liệu pháp cắt bỏ androgen (ADT) có hoặc không có docetaxel (DOC): kết quả dài hạn từ 2 thử nghiệm giai đoạn 3 từ giao thức nền tảng STAMPEDE. Trình bày tại Hội nghị thường niên AUA năm 2023. Ngày 27 tháng 4-1 tháng 5 năm 2023; Chicago, IL. Tóm tắt MP11-13. doi: 10.1097/JU.0000000000003226.13
- James ND, Sydes MR, Clarke NW, et al. Bổ sung docetaxel, axit zoledronic hoặc cả hai vào liệu pháp hormone dài hạn hàng đầu trong ung thư tuyến tiền liệt (STAMPEDE): kết quả sống sót từ một thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên, nhiều nhánh, nhiều giai đoạn, nền tảng thích ứng. Lancet . 2016;387(10024):1163-1177. doi: 10.1016/S0140-6736(15)01037-5





