Erlotinib mang lại lợi ích DFS dài hạn và cải thiện OS đáng kể so với hóa trị trong EGFR+ NSCLC
Erlotinib (thuốc Tarceva)tiếp tục mang lại lợi ích về thời gian sống không bệnh (DFS) và thời gian sống tổng thể (OS) so với hóa trị vinorelbine/cisplatin ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ dương tính với EGFR (NSCLC), theo dữ liệu OS cập nhật và phân tích thăm dò từ thử nghiệm giai đoạn 2 EVAN (NCT01683175).
Sau 43 tháng theo dõi, tỷ lệ DFS 5 năm là 48,2% (95% CI, 29,4%-64,7%) ở nhóm erlotinib trong dân số theo ý định điều trị (ITT) và 46,2% (95% CI, 27,6%-62,9%) ở nhóm theo phác đồ điều trị. Do bệnh nhân nhóm hóa trị vinorelbine cộng cisplatin đã đạt điểm cuối hoặc bị loại khỏi thử nghiệm, tỷ lệ DFS 5 năm cho nhóm này không thể xác định được. Tại thời điểm cuối của dữ liệu, lợi ích DFS với erlotinib vượt trội đáng kể so với hóa trị trong cả hai dân số ITT (HR, 0.38; 95% CI, 0.20-0.70; P < .001) và theo phác đồ (HR, 0.46; 95% CI, 0.24-0.88; P = .008).
BS. Dongsheng Yue, Viện Ung thư Đại học Y khoa Thiên Tân, Trung Quốc, và các đồng nghiệp viết rằng: “Dựa trên những kết quả này và các kết quả trước đây của EVAN, erlotinib, so với hóa trị vinorelbine (thuốc navelbine) /cisplatin, là một lựa chọn điều trị hứa hẹn cho bệnh nhân NSCLC giai đoạn IIIA có đột biến EGFR sau khi phẫu thuật R0.”
Bệnh nhân NSCLC giai đoạn IIIA đã phẫu thuật R0 thường tái phát, với tỷ lệ sống 5 năm dưới 25%. Osimertinib (Tagrisso), một loại ức chế tyrosine kinase EGFR (TKI), hiện là liệu pháp bổ trợ chuẩn cho NSCLC giai đoạn II đến III có đột biến EGFR sau phẫu thuật. Các TKI khác, như erlotinib, cũng có thể mang lại lợi ích lâm sàng trong trường hợp này.
Thử nghiệm EVAN, một nghiên cứu ngẫu nhiên, mở nhãn, đã đánh giá DFS, OS và độ an toàn của erlotinib bổ trợ so với hóa trị vinorelbine cộng cisplatin sau phẫu thuật hoàn toàn ở bệnh nhân NSCLC giai đoạn IIIA dương tính với EGFR. Thử nghiệm này thu nhận 102 bệnh nhân, chia đều thành hai nhóm: erlotinib (n = 51) và hóa trị (n = 51). Nhóm theo phác đồ của erlotinib loại trừ 5 bệnh nhân, trong đó 1 bệnh nhân không nhận điều trị, và 4 bệnh nhân vi phạm nghiêm trọng quy trình, bao gồm không phẫu thuật R0 (n = 3) và thiếu đánh giá quan trọng (n = 1).
Bệnh nhân nhóm erlotinib nhận 150 mg uống mỗi ngày trong 2 năm, còn nhóm hóa trị nhận 25 mg/m² vinorelbine truyền tĩnh mạch vào ngày 1 và 8 của mỗi chu kỳ 21 ngày, và 75 mg/m² cisplatin truyền tĩnh mạch vào ngày 1, trong 4 chu kỳ.
Kết quả chính của nghiên cứu:
- Thời gian sống trung bình (OS) là 84,2 tháng (95% CI, 78,1-NE) ở nhóm erlotinib và 61,1 tháng (95% CI, 39,6-82,1) ở nhóm hóa trị (HR, 0.318; 95% CI, 0.151-0.670).
- Tỷ lệ sống 5 năm là 84,8% (95% CI, 72,0%-97,6%) ở nhóm erlotinib và 51,1% (95% CI, 34,7%-67,5%) ở nhóm hóa trị.
- Tỷ lệ tái phát ở nhóm erlotinib là 43,1%, trong khi nhóm hóa trị là 54,9%.
Phân tích toàn bộ hệ gen cho thấy các đột biến thường gặp tại TP53, MUC16, FAM104B, KMT5A, và DNAH9. Đột biến SNP tại UBXN11 liên quan đến DFS xấu hơn (P = .01), một phát hiện mới cần nghiên cứu thêm.
Tác dụng phụ (AEs) xuất hiện ở 58% bệnh nhân trong nhóm erlotinib, và 12% trong nhóm hóa trị gặp AEs mức độ 3 hoặc cao hơn. Một bệnh nhân nhóm erlotinib (2%) phát triển bệnh phổi kẽ.
Trong số 37 bệnh nhân tử vong, nguyên nhân chủ yếu là do tiến triển bệnh: 9 bệnh nhân ở nhóm erlotinib và 19 bệnh nhân ở nhóm hóa trị.
Tác giả: Ashling Wahner
Đội ngũ biên tập viên Nhà Thuốc An Tâm
Tài liệu tham khảo:
Yue D, Xu S, Wang Q, et al. Updated overall survival and exploratory analysis from randomized, phase II EVAN study of erlotinib versus vinorelbine plus cisplatin adjuvant therapy in stage IIIA epidermal growth factor receptor+ non–small-cell lung cancer. J Clin Oncol. Published online August 26, 2022. doi:10.1200/JCO.22.00428





